KHÔNG QUÂN VIỆT NAM TRONG CHIẾN DỊCH 12 NGÀY ĐÊM

CLB NHIẾP ẢNH CHIẾN SĨ

CLB Nhiếp ảnh chiến sĩ, SOLDIER PHOTOGRAPHY CLUB

CLB Nhiếp ảnh chiến sĩ, SOLDIER PHOTOGRAPHY CLUB, ảnh đẹp trong tuần, hình ảnh anh bộ đội cụ Hồ, tác phẩm nổi tiếng

Ngày: 23/12/2011
 TÌNH HÌNH TA VÀ ĐỊCH TRƯỚC CHIẾN DỊCH

Cuối năm 1972, cục diện chiến tranh Việt Nam có những chuyển biến quan trọng. Ở miền Nam, cuộc tiến công chiến lược của quân và dân ta giành được những thắng lợi lớn. Cuộc chiến tranh phá hoại ngăn chặn và phong toả lần thứ hai đối với miền Bắc không đạt được các mục tiêu mà giới cầm quyền Mỹ mong muốn. Cuộc đàm phán ở Pa-ri đã kéo dài hơn 4 năm. Phong trào phản đối chiến tranh ở tronbg lòng nước Mỹ ngày càng dâng cao. Ngày 17-10-1972, văn bản “ Hiệp định về chấm dứt chiến tranh lập lại hoà bình ở Việt Nam” đã được các bên tham gia hội nghị thoả thuận và định ngày ký tắt 22-10-1972 và ngày ký chính thức 31-10-1972. Để lừa bịp nhân dân Mỹ trong cuộc bầu cử tổng thống, ngày 22-10-1972, tổng thống Mỹ R Ních-xơn công bố chấm dứt ném bom miền Bắc từ vĩ tuyến 20 trở ra.

Ngay sau khi trúng cử Tổng thống Mỹ, R.Ních –xơn lật lọng, ráo riết chuẩn bị hành động phiên lưu quân sự mới. Ngày 14-12, Tổng thống Mỹ R.Ních-xơn thông qua kế hoạch tập kích chiến lược bằng B52 vào Hà Nội, Hải Phòng bắt đầu từ ngày 18-12. Chúng điều thêm hai tàu sân bay đến vịnh Bắc Bộ nâng tổng số tàu sân bay lên 5 chiếc tại vùng biển từ Hà Tĩnh đến Thanh Hoá. Thành lập Bộ chỉ huy không quân chiến lược lâm thời số 57 điều động 193 máy bay B52 tham chiến Việt Nam ở 2 sân bay Endoxon (Guam) và Utapao (Thái Lan).

B52 là con át chủ bài của không quân Mỹ, đây là loại máy bay ném bom chiến lược có 16 máy gây nhiễu tích cực, hai máy gây nhiễu trên tiêu cực. Nó có thể bay ở độ cao đến 16.765 m, hoạt động ở tầm xa 20.000 km. Một tốp ba chiếc B52 có thể huỷ diệt mục tiêu trong phạm vi 4km2 trong thời gian 3 phút bằng khả năng oanh tạc của 50 đến 60 máy bay cường kích chiến thuật. B52 được mệnh danh là “siêu pháo đài bay”.

Chỉ một tháng sau ngày Mỹ đưa B.52 vào miền Nam, ngày 19 - 7- 1965, Bác Hồ đã đến thăm Quân chủng Phòng không – Không quân, nhân dịp bộ đội tên lửa chuẩn bị ra quân đánh Mỹ trận đầu. Bác Hồ đã dạy rằng: “Dù đế quốc Mỹ lắm súng, nhiều tiền, dù chúng có B.57, B.52 hay “Bê” gì đi chăng nữa, ta cũng đánh. Từng ấy máy bay, từng ấy quân Mỹ chứ nhiều hơn nữa ta cũng đánh, mà đã đánh là nhất định thắng”. Năm 1968, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tiên đoán “Sớm muộn đế quốc Mỹ cũng sẽ đưa B52 ra đánh Hà Nội , rồi có thua nó mới chịu thua trên bầu trời Hà Nội”. Bộ đội Phòng không-Không quân đã được giao nhiệm vụ nghiên cứu, tìm cách đánh đối tượng tác chiến nguy hiểm này. Sau một thời gian nghiên cứu, ngày 31-10-1972, Bộ Tư lệnh Quân chủng tổ chức chỉ đạo hội nghị rút kinh nghiệm chiến đấu và thông qua tài liệu “cách đánh B52”.

Bộ tư lệnh Binh chủng Không quân xác định lực lượng chủ yếu đánh B52 của không quân là Mig 21, nên đã tích cực tổ chức cho phi công lái Mig21 tập bay trong khí tượng phức tạp ban ngày và ban đêm, tập cất cánh, hạ cánh ở các sân bay dã chiến đường băng ngắn. Lực lượng không quân trham chiến trong chiến dịch 12 ngày đêm đều là loại máy bay Mig21.

HẠ 7 MÁY BAY ĐỊCH TRONG ĐÓ CÓ 2 SIÊU PHÁO ĐÀI BAY

19 giờ 40 phút ngày 18-12-1972, đế quốc Mỹ huy động 90 lần chiếc B52 và 135 lần chiếc máy bay chiến thuật đánh liên tiếp ba đợt vào các sân bay Kép, Nội Bài, Gia Lâm, Hoà Lạc, Yên Bái,, các khu vực có nhiều cơ sở công nghiệp như Đông Anh, Yên Viên, Đức Giang, cơ sở phát sóng Đài tiếng nói Việt Nam ở Mễ Trì. Cùng thời gian đó chúng huy động 28 lần chiếc máy bay cường kích của hải quân đánh phá thành phố cảng Hải Phòng.

19 giờ ngày 18-12, phi công Trần Cung đã lái máy bay Mig 21 cất cánh sân bay Hoà Lạc , không phát hiện địch, anh quay về hạ cánh sân bay Nội Bài. 19 giờ 25 phút cùng ngày, phi công Phạm Tuân cất cánh từ sân bay Nội Bài, bay đến khu vực Hoà Bình , Phạm Tuân phát hiện từng chùm kim loại gây nhiễu do F4 thả loé sáng , nhìn phía trước phía sau đều có máy bay địch, chúng bật đèn, bay thẳng về phía Hà Nội. Phạm Tuân bật tăng lực, cơ động tránh tên lửa. Mấy giây sau, phát hiện dãy máy bay địch, mỗi chiếc có 4 đèn sáng (B52), anh mở ra-đa, nhưng ra-đa bị nhiễu không bắt mục tiêu. Địch phát hiện Mig21 bật tăng lực nên đã kịp đối phó. Phạm Tuân bay về sân bay Nội Bài, nhưng sân bay vừa bị 6 chiếc B52 ném bom rải thảm, hệ thống đèn đường băng hỏng, lợi dụng ánh sáng của các loại hoả lực từ mặt đất bắn lên và một máy bay địch đang bốc cháy trên bầu trời, Phạm Tuân đã hạ cánh an toàn.

Các ngày tiếp theo, phi công Vũ Đình Rạng, Nguyễn Đức Soát, Nguyễn Thanh Quí cất cánh chặn địch từ đằng xa. 14 giờ chiều ngày 23-12-1972, biên đội Nguyễn Văn Nghĩa và Lê Văn Kiền cất cánh từ sân bay Nội Bài bay vào vùng trời Hoà Bình chặn địch. Nguyễn Văn Nghĩa bay số 1, phát hiện 6 biên đội F4 của địch (24 chiếc) trước mặt. Từ độ cao 8000 m, các anh lao vào đội hình địch, tả xung, hữu đột, vừa tránh tên lửa của địch, vừa tìm thế tấn công. Mỗi máy bay F4 mang 8 tên lửa, còn máy bay Mig 21 chỉ có 2 quả tên lửa hồng ngoại .Mỗi lần thấy tia chớp trên bầu trời, là các anh làm động tác tránh né, để thoát khỏi vùng nổ tên lửa địch. Dưới Sở chỉ huy, Trung đoàn trưởng Nguyễn Hồng Nhị, chỉ huy bay hô “ Kiên quyết tấn công, đánh nhanh, rút nhanh”. Nguyễn Văn Nghĩa chiếm được vị trí thuận lợi, bám ngay sau chiếc F4, anh bình tĩnh cho máy bay địch vào vòng ngắm, bóp cò. Máy bay rung lên, tên lửa vút đi. Tiếng Lê Văn Kiền hô to: “cháy rồi”. Chiếc máy bay con ma F4 như một bó đuốc cháy rực rơi nhanh xuống đất. Các anh còn quần nhau với địch một hồi, rồi thoát ly về sân bay. Lúc này máy bay địch đang phong toả sân bay Nội Bài, lệnh chỉ huy cho phép nhảy dù. Nhưng các phi công ta đã quyết tâm hạ cánh xuống , vì nếu nhảy dù vừa hỏng máy bay lại dễ bị thương phải dời vị trí chiến đấu ít nhất 6 tháng. Đường băng chính hỏng nặng, các anh đề nghị kiểm tra đường lăn. Nghe báo đường lăn chưa bị trúng bom, hai phi công nhanh chóng hạ cánh xuống. Trên trời máy bay F4 địch bắn đại liên xối xả, nhưng đều không trúng máy bay ta. Máy bay tiếp đất, phi công bình tĩnh đưa máy bay vào hầm trú ẩn trong núi.

12 giờ ngày 27-12-1972, Biên đội Đỗ Văn Lanh và Dương Bá Kháng cất cánh từ sân bay Nội Bài lên vùng trời Vĩnh Phú. Biên đội gặp địch. Dương Bá Kháng đi số 2 phát hiện hai chiếc F4 địch bám theo Đỗ Văn Lanh đang chuẩn bị công kích. Lập tức Kháng thông báo cho Lanh tránh đạn địch và anh bám theo một chiếc F4. Máy bay địch mải công kích Lanh, không phát hiện Kháng. Đưa máy bay địch vào vòng ngắm, Kháng bóp cò, tên lửa bay ra khỏi máy bay trúng ngay chiếc F4 nổ tung.

14 giờ ngày 27-12-1972, Trần Việt lái Mig21 cất cánh từ sân bay Miếu Môn vào vùng trời Hoà Bình , ở độ cao 7000 m. Sở chỉ huy thông báo cho anh biết địch có 4 chiếc. Khi phát hiện trước mặt máy bay địch bay góc 90 độ. Anh lập tức tăng lực , dùng động tác vòng gấp bám địch phía sau . Bọn địch phát hiện Mig 21 của ta, lập tức uốn éo tránh đạn và phân tốp đan chéo tìm cách tiêu diệt ta. Trần Việt ngắm chiếc máy bay số 2, ở cự ly 1500m, phóng tên lửa , Máy bay địch bốc cháy, anh nhanh chóng thoát ly, trở về sân bay Nội Bài an toàn.

Đêm 27-12-1972, địch tiếp tục cho B52 vào đánh Hà Nội. 22 giờ 20 phút, Phi công Phạm Tuân lái Mig21 cất cánh từ sân bay Yên Bái bay vào đánh địch vùng trời Mộc Châu (Sơn La). Vượt qua trần mây, nhìn thấy bên sườn có ánh đèn của F4, anh cho máy bay vượt qua, vòng trái lấy độ cao 2500m. Đến gần Mộc Châu, Phạm Tuân xin phép thả thùng dầu phụ, bật tăng lực, lấy độ cao 7000m. Nhìn phía trước có tám ánh đèn màu vàng nhạt, Phạm Tuân tăng tốc độ vượt xa tiêm kích địch và kéo máy bay lên độ cao ngang đội hình B52. Anh báo cáo: “ Đã thấy mục tiêu xin được công kích , quyết tâm bắn rơi máy bay địch”. Sở chỉ huy ra lệnh: “bắn hai quả thoát ly nhanh”. Máy bay địch vẫn bay theo đội hình cơ bản, chưa phát hiện được máy bay Mig bám đuôi. Phát hiện 2 máy bay B52 bay cách nhau khoảng 2 km, Phạm Tuân bình tĩnh kiểm tra công tắc, chỉnh lại đường ngắm và bắn hai quả tên lửa. Một quầng lửa trùm lên chiếc B52, Phạm Tuân lật máy bay vòng trái xuống độ cao 2000m, bay trong mây về sân bay Yên Bái hạ cánh an toàn. Để kịp thời sửa chữa sân bay, hàng ngàn bộ đội, thanh niên xung phong đã không quản ngày đêm vá lại đường băng bị bom đánh hỏng, để máy bay ta có thể cất cánh.

Ngày 28-12-1972, biên đội Lê Văn Kiền và Hoàng Tam Hùng cất cánh từ sân bay Nội Bài, mới vòng một vòng tại sân, thì máy bay địch xuất hiện. Hoàng Tam Hùng phát hiện bên trái 45 độ cự ly khoảng 12km có một tốp 4 chiếc máy bay địch. Lập tức Hùng vào công kích . Lê Văn Kiền phát hiện phía sau 120 độ 4 chiếc máy bay địch đi chiều ngược lại. Kiền vòng lại bám địch. Địch chui vào mây. Hoàng Tam Hùng bám sát chiếc F4, khi đưa máy bay địch vào vòng ngắm, anh phóng tên lửa trúng chiếc F4, rơi tại chỗ trên bầu trời Hà Nội. Nhưng rồi Hoàng Tam Hùng cũng bị trúng tên lửa của địch, hy sinh anh dũng.

21 giờ 41 phút ngày 28-12-1972, Vũ Xuân Thiều cất cánh từ sân bay Cẩm Thuỷ, được sở chỉ huy Thọ Xuân dẫn vòng ra phía sau đội hình B52. Đến vùng trời khu vực Sơn La, Vũ Xuân Thiều phát hiện mục tiêu. Mặc dù ở cự ly gần, nhưng anh vẫn xin vào công kích quyết tâm tiêu diệt địch. Sau khi công kích, máy bay B52 địch bốc cháy. Vũ Xuân Thiều không kịp thoát ly và đã hy sinh anh dũng.

Khoảng 21 giờ ngày 29-12-1972, phi công Bùi Doãn Độ cất cánh từ sân bay Nội Bài đi về hướng Mộc Châu, Sơn La. Tại đây anh gặp tốp máy bay F4 bảo vệ B52. Bùi Doãn Độ đã bình tĩnh tránh đạn địch, dũng cảm, mưu trí bắn rơi một chiếc F4, rồi thoát ly về sân bay Nội Bài, hạ cánh an toàn.

Ngày 30-12-1972, chính quyền Mỹ buộc phải tuyên bố ngừng ném bom miền Bắc từ vĩ tuyến 20 trở ra và đề nghị gặp lại đại diện Chính phủ ta tại Pa-ri, bàn việc ký hiệp định chấm dứt chiến tranh. Cuộc tập kích chiến lược quy mô lớn bằng máy bay B52 của đế quốc Mỹ vào Hà Nội, Hải Phòng kéo dài 12 ngày đêm bị thất bại hoàn toàn. Quân và dân ta, nòng cốt là bộ đội Phòng không-Không quân đã đánh một trận xuất sắc , bắn rơi 81 máy bay trong đó có 34 máy bay B52, 5 máy bay F111. Riêng không quân xuất kích 24 lần bắn rơi 7 chiếc máy bay trong đó có 2 chiếc B52. Các biên đội không quân đã 8 lần phá vỡ đội hình bay chiến đấu của địch, tạo điều kiện cho tên lửa và các lực lượng phòng không đánh thắng.

Từ chỗ chỉ bắn rơi các loại máy bay chiến thuật hiện đại của địch, bộ đội không quân trẻ tuổi đã bắn rơi “siêu pháo đài bay” B52, ghi một chiến công mới vào trang sử chiến đấu trên không và lịch sử chiến đấu chống ngoại xâm của dân tộc ta. Binh chủng không quân được tuyên dương anh hùng LLVT nhân dân năm 1976. Các phi công bắn rơi máy bay trong 12 ngày đêm được tuyên dương anh hùng là: Phạm Tuân, Vũ Xuân Thiều, Nguyễn Văn Nghĩa.

Đoàn Hoài Trung


===================================================================



Phi đội MiG 21 Đoàn Sao Đỏ anh hùng



Phi công chuẩn bị xuất kích



Hoa chiến thắng bên xác máy bay B52



Phi công Phạm Tuân trở về sau khi bắn rơi B52



Anh hùng Nguyễn Văn Nghĩa



Anh hùng Phạm Tuân






Anh hùng Vũ Xuân Thiều



(Ảnh: tư  liệu)








Chia sẻ Facebook Google LinkedIn Email In
Các nội dung khác