BẾ MẠC TRẠI SÁNG TÁC VĂN HỌC TẠI AN GIANG

Ngày: 14/08/2017

 Sáng 14-8, tại Khu du lịch Bến Đá, Châu Đốc tỉnh An Giang, Tạp chí Văn nghệ Quân đội (Tổng cục Chính trị) phối hợp cùng UBND tỉnh An Giang đã tổ chức bế mạc trại sáng tác văn học “ Lực lượng vũ trang, chiến tranh cách mạng và bảo vệ Tổ quốc” . Đến dự có đồng chí Nguyễn Thanh Bình, Phó chủ tịch UBND tỉnh An Giang cùng đại biểu các ban ngành đoàn thể của tỉnh và đại diện các đơn vị trong khu vực.

 

Đồng chí Nguyễn Thanh Bình - Phó chủ tịch UBND Tỉnh An Giang biểu dương ghi nhận những thành quả mà Trại sáng tác thu nhận được từ các nhà văn nhà thơ tham gia 

 

Qua 15 ngày từ mồng 1 đến 14 tháng tám năm 2017, tại khách sạn Bến Đá, Châu Đốc, An Giangvới ba chuyến đi thực tế: Đi tàu trên kinh Vĩnh Tế để cảm nhận được cái mênh mang thi vị mùa nước nổi Miền Tây. Thăm Tức Dụp, căn cứ địa của huyện uỷ Tri Tôn và tỉnh uỷ An Giang, nơiđược mệnh danh là Sơn đạo thép trong chống Mĩ, kết hợp nghe và trò chuyện cùng các vị lão thành cách mạng, các cựu chiến binh từng chiến đấu ở vùng này, ghé thăm khu tưởng niệm những nạn nhân bị polpot giết hại tại Ba Trúc.Đi thăm sư đoàn 330 và trung đoàn Bộ binh 2, dự một buổi sinh nhật đồng đội để hiểu thêm cuộc sống cũng như tâm tư tình cảm của người lính hôm nay, rồi những chuyến đi riêng để nghe những câu chuyện về người, về đất…ba mươi tác giả tham dự trại sáng tác phối hợp giữa Tạp chí Văn nghệ Quân đội và Liên hiệp các hội Văn học Nghệ thuật An Giang với chủ đề: “Lực lượng vũ trang, chiến tranh cách mạng và bảo vệ Tổ quốc” đã cho ra đời hơn chín mươi tác phẩm cả văn xuôi và thơ có chất lượng, đa dạng về đề tài.
Về văn xuôi
Với hơn 50mươi tác phẩm nộp về trại, trong đó có 15 tác phẩm kí, ghi chép, 40 truyện ngắn, các tác giả đã tập trung khai tháccác đề tài: chiến tranh cách mạng và người lính, văn hóa vùng đất, các vấn đề xã hội nóng bỏng hiện nay, lịch sử…
Đối với đề tài chiến tranh cách mạng và người lính:
Đây là đề tài được tập trung đầu tư thu thập tư liệu để viết của cả Ban tổ chức và các trại viên vì thế, hầu hết các tác phẩm đều lấy cảm hứng từ cuộc chiến đấu anh dũng kiên cường của những người con của mảnh đất miền Tây, đặc biệt làAn Giang trong chống Mỹ và biên giới Tây Nam.Chính vì vậy, thế mạnh của thể loại kí chân dung được phát huy tối đa cho những khắc họa này. Những trang viết trong bút kíHương trái hương người của Võ Diệu Thanh về cô Ba Hương, người con của mảnh đất An Giang, một người chiến sĩ cách mạng kiên trung bất khuất bị địch bắt tra tấn dã man, trong đó có hình thức tra điệncó những khoảng khiếnai đọc tới cũng phải lặng người: “Dòng điện tàn bạo ngày nào đi vào như vẫn còn ở y đó. Mỗi khi trời chuyển mưa giông sấm chớp, cô lại thấy dòng điện ấy bật lên chạy rần khắp cơ thể, co cứng quai hàm, tê buốt từng thớ thịt”rồi “nước xà bông ớt xộc vào từng xoang mũi, tưởng như tràn vào tận óc. Cô giãy đành đạch như cá bị đập đầu”. CònNgày trở về - Bút kícủa Hoàng Thị Trúc Ly thì lại là những khúc quyện của mênh mang: Mênh mang đồng nước, mênh mang điên điển nở vàng cả trong hiện tại và quá khứ, mênh mang vui, buồn, mất mát trên từng nhát chèokhi hai người lính già đi về quá khứtrên chuyến xuồng kí ứcở cánh đồng mênh mông nước chiến trường xưa. Bên cạnh đó những bút kí khác như:Người quân báo bắt cướp, Những người bước ra từ cuộc chiến Biên giới Tây Nam của Võ Quốc Tuấn, Một con đường, những con người và Khưu Ngọc Bảy với trường ca Bến cảng giữa rừng của Ngô Khắc Tài, Chiến tranh, của Phan Trung Nghĩa…. là những phác thảo rõ hơn cho sự anh hùng cũng như mất mát đau thươngcủa vùng đất này. Đặc biệt, nhà văn Trần Hữu Dũng của Thành Phố Hồ Chí Minh, dù không phải là trại viên trại sáng tác nhưng cũng hưởng ứng bằng 2 bút kí: Tàu 43 – đoàn tàu không số: ký ức hào hùng người lính,và: Họa sĩ Phong ba người vẽ chân dung Bác Hồ.
Với thời gian chỉ 15 ngày bao gồm cả những chuyến đi thực tế, vì thế truyện ngắn về đề tài này,nhiều tác giả mới ở dạng thai nghén. Tuy nhiên, có những ăng ten tâm hồn khá nhạy đã bắt được tần số cảm xúc vùng đấtđể vụt thành tứ truyện ngay trong các chuyến đi. Đó là Gió sông Bình, của Vũ Thanh Lịch,Tiếng vọng của Lê Quang Trạng. Ngụ ngôn tháng tư của Tú Ngọc. Với Ngụ ngôn tháng tư, cái hiện thực hôm nay thổn thức trong quákhứ đẹp buồn cuộc chiến Biên giới Tây Namcủa câu chuyện người lính đi tìm bông súng đỏ cho người yêu đang cơn hấp hối, thổn thức trong lịch sử vùng đất này thời tướng Võ Văn Vương đuổi theo Nguyễn Ánh và mắc kẹt ở đây để rồi neo tâm hồn người đọc lại vùng đất có tên Búng Bình Thiên. Ngược với Ngụ ngôn tháng tư, Cuộc chờcủa tác giả Nguyên Chương lại là câu chuyện hết sức giản dị nhưng đầy khắc khoải,một tam giác chờ của ba người mà đỉnh tam giác là một người lính mất tích trong chiến tranh, hai đỉnh kia, một là cô gái tên Miên – như chính cái tên mình, miên viễn cuộc chờ thủy chung của linh cảm người yêu mình vẫn sống và Quyết, một đồng đội của người lính mất tích với lời hẹn sẽ về chăm sóc Miên nếu người còn lại hy sinh.Các truyện khác như: Dấu chấm treo của Thu Trân, Tiếng vọng của Lê Quang Trạng cũng là những câu chuyện đầy ám gợi về đề tài này.
Đối với đề tài xã hội
Nếu như đề tài chiến tranh, rất nhiều truyện ngắn, bút kí còn đang được thai nghén sau những chuyến đi thực tế thìhầu hết các tác phẩm đề tài xã hội đã được nhiều tác giả bắt đầu từ khi chưa đi và hoàn thành trong thời gian diễn ra trại viết: Phố Cối của Vũ Thanh Lịch là một câu chuyện khá phổ biến ở các vùng miền cả nước hôm nay: Làng lên phố! Nhưng khác với các truyện ta thường gặp khai thác cái bi, sự đánh mất bản sắc của làng, Phố Cối lại là một câu chuyện dí dỏm và đầy tình người, trong đó những trang văn diễn tả tâm lí tinh tế của một người đàn bà quê mùa đãchót dại có mangrồi lại vì sợ nên tiếp tục vào vai đội lễ dành cho những cô gái đồng trinhtrong một lễ hội thiêng liêng của làng…Hồi quang, Tiếng hát lau sậy, Tiếng sáo của Bảo Thương là những truyện ngắn có những trang văn gợi để người đọc tự nghiệm một điều gì đó. Bên cạnh đó, những phận người, cảnh đời, những tình yêu đẹp đầy nhân văncũng hiện lên qua các truyện ngắn: Mộ núi của Nguyễn Thị Việt Hà, Giấc mơ của thần rừng của Nguyễn Văn Toan, Rồi tan tro bụi của Nguyễn Thu Phương, Ở trọ của Phan Duy, Lối thoát, Huyền thoại, Con chó già, của Đỗ Quang Vinh. Mộng tái sinh, Cõi gió của Tiểu Quyên, Đại tỷ, Phiêu du của Trương thị Thanh Hiền, Cỏ mọc ở sân, Chiếc chổi dựng ngược của Vũ Thiên Kiều, Một vụ ăn cắp của Trương Chí Hùng..v..v..Đề tài lịch sử là Mây trôi viễn xứ của Tú Ngọc, Thiên chức, Trăng lạnh của Phạm Hữu Hoàng, Cánh mai đen của Lê Vũ Trường Giang, Mùa cá linh, Rồng ngủ đất phương Nam của Triều La Vỹ.
An Giang là vùng đất của những trầm tích, vùng đất của cảnh sắc níu lấy hồn người mà kéo lại cho ngơ ngẩn bâng khuâng. Vùng đất của những ngọn núi đầy huyền tích và bí ẩn, của sự khám phá và trải nghiệm, của những con người nhiệt thành ấm áp… và đó cũng là lí do để nhiều tác giả khai thác, tìm cảm hứng qua những bài bút kí về vùng đất. Núi Cấm hiện lên với “một thứ tinh thần riêng biệt, tường trình cái căn cước thiêng liêng” để cho ta “đắm đăm thả dòng suy tư của mình miên miết trôi giữa vết xước sương mù, nỗi thâm trầm rừng già và niềm ngưỡng vọng chân lý” trong bút kí Lên Cấm Sơn của Lê Vũ Trường Giang.Chông chênh đá của Trương Chí Hùng như chính cái tên đã đặt, là những chông chênh vùng đá, phận người. Đá Tri Tôn, gắn với cuộc đời chìm nổi của người gánh đá mướn gần ba mươi năm, Đá Ô Tà Sóc, Ma Thiên Lãnh gắn với câu chuyện cảm động của bảy người lính bị kẹt lại khi bom Mĩ đánh sập cửa hang.Đá núi Cấm, Đá núi Sam gắn với sự linh thiêng thành kính. Rồi, làng Nhơn Hưng, xã Phú Lộc qua các bút kí của Trần Sang, Biên giới mùa nước nổi của Lê Quang Trạng…
Về thơ
Nhắc tới An Giang là nhắc đến những nguồn thi hứng bất tận. Cũng bởi An Giang đậm sâu về văn hóa, giàu có về tình người, đa dạng về phong cảnh và kiên cường bất khuất trong mọi cuộc chiến chống ngoại xâm của dân tộc. Chính những điều này đã làm nên một tinh thần sáng tạo không ngừng cho những tác giả tham gia trại viết lần này.
Cuộc chiến tranh Biên giới Tây Nam của Tổ quốc diễn ra chưa xa. Khi những đau thương mất mát của những Ba Chúc, Ô Tà Sóc, Ma Thiên Lãnh… vẫn nhoi nhói đến hôm nay,khi niềm tự hào về một thời đứng lên “đuổi quân cướp nước, dẹp lũ bạo tàn” được nhân dân An Giang hàng ngày nhắc đến thì cũng là dịp cho thơ ca được mở lòng, đề tài Lực lượng vũ trang, chiến tranh cách mạng và bảo vệ Tổ quốc được thể hiện một cách nổi bật nhất.
Nội kể những năm bình định quê mình bám đất, giữ làng/ Nội kể có lần Pôn-pốt tràn sang tàn sát bà con/ Nội kể những người đồng đội xác còn gởi lại chiến trường/ Nội kể và rồi nội khóc/ Tuổi già mắt lệ như sương… đó là những câu thơ trong bài Kí ức ông tôi của Trương Trọng Nghĩa. Một bài thơ mà chỉ cần nghe tên thôi cũng đủ gợi cho ta nhắc nhớ về một thời, đủ làm lòng ta lặng xuống dù tác giả không đi vào một hình ảnh cụ thể nào nhưng sự gợi ám về cuộc chiến lại mang đến nhiều day dứt.
Mẹ ngồi nhớ bóng anh xưa là một bài thơ thấm đẫm câu chuyện nhân văn của tác giả Trương Nam Chi. Khi hi sinh đã có sự chuyển hóa giấc mơ người trao gửi giấc mơ cây thì mảnh đất nơi người đã xuống cũng được hồi sinh: Đất hồi sinh sau những tháng năm dài/ rừng xanh cànhthiếu nữ/ gỡ niêm phong ngày cũ/ mẹ giờ nhớ tuổi xuân anh.

Trong niềm xúc động khi đến thăm Ba Chúc, nơi mà trong suốt 12 ngày chiếm đóng từ 18 đến 30 tháng 4 năm 1978, quân Khmer Đỏ đã giết chết 3.157 dân thường, nhà thơ Vũ Thiên Kiều đã viết nên những câu thơ đầy ám ảnh:…Miền biên giới của thời bão lửa/ trận cuồng phong xanh lá hóa màu tro/ nơi cửa Phật ngỡ người người qua nạn/ máu chảy ngập chùa/ tiếng thét xối vào không (Gọi tên ai)
Những vần thơ lục bát tác giả Lê Quang Trạng lại làm lòng ta lay động bởi những điều có và không trên hang ngàn nghĩa trang liệt sĩ ở khắp mọi miền Tổ quốc. Người lính nào khi ra trận cũng có tên tuổi nhưng khi nằm xuống đất mẹ thì không phải ai có dòng tên trên mộ chí của mình. Sự hi sinh, mất mát của người qua thơ anh càng trở nên cao cả hơn và cũng đầy đau xót hơn: Tiếng gió rơi vào mênh mông/ một hàng mộ, một hàng không tên người/ mùa nào súng nổ rách trời/ tên ghi lên áo, tuổi đời mang vai (mùa gió trên dốc Bà Đắc)
Viết về đề tài Lực lượng vũ trang, chiến tranh cách mạng và bảo vệ Tổ quốc trong trại viết lần này không thể không nhắc đến những bài thơ Bóng núi của Nguyễn Thanh Hải, Một trăm hai tám ngày đêm của Nghiêm Quốc Thanh, Chuyến về của Phan Duy…
Không chỉ ở đề tài Lực lượng vũ trang, chiến tranh cách mạng và bảo vệ Tổ quốc, các tác giả khi tham gia trại sáng tác lần này còn có những xúc cảm rất sâu đậm về mảnh đất và con người An Giang. Trong đó phải kể tới những sáng tác của các tác giả Đỗ Quang Vinh, Trương Chí Hùng, Lê Quang Trạng, Phan Duy, Trương Nam Chi, Vũ Thiên Kiều…
Với 15 ngày ngắn ngủithì những gì ở trên mới chỉ là sự khởi đầu: Khởi đầu sau những khuấy lên để lắng lại cảm xúc của một vùng đất ta vừa khám phá, vùng đất ta đã đi qua và giờ đi lại. Khởi đầu của những trang bản thảo lấp loáng nắng gió, mênh mông mùa nước nổi, nồng nàn ấm áp yêu thương, chia sẻ của người An Giang, những cương cường rồi mất mát đau thương của mảnh đất này.Giống như một tảng băng chìm, trên chín mươi tác phẩm nộp ở trại mới là phần nổi, còn rất nhiều, rất nhiều những cảm xúc đang ủ men vùng đất An Giang,trong thời gian tớisẽ được trưng cất trải lên trang giấy thành những bài thơ, bút kí, truyện ngắn, thậm chí là cả những tiểu thuyết để gửi tới độc giả trên cả nước.

ĐOÀN HOÀI TRUNG

 

Chia sẻ Facebook Google LinkedIn Email In
Các nội dung khác